Theo phả ký tộc Nguyễn Đình (Nghệ-Tĩnh) trên vietnamgiapha.com, dòng họ Nguyễn Đình tại Thượng Xá không bắt đầu từ Nguyễn Xí, mà đi theo mạch Nguyễn Hợp → Nguyễn Hội → Nguyễn Xí: Nguyễn Hợp là Thủy tổ, Nguyễn Hội là Khai tổ và là cha của Nguyễn Xí, Nguyễn Xí là Đức tổ được suy tôn. Các chi sau được phả ký ghi là con cháu của Nguyễn Xí. Vì vậy, nói dòng Thượng Xá có nguồn gốc từ Nguyễn Xí chỉ đúng theo cách ghi của phả ký tộc này, và chỉ đúng ở nghĩa Nguyễn Xí là Đức tổ của dòng, không phải là người đầu tiên trong mạch. Những gì sử liệu công khai xác nhận được là Nguyễn Xí sinh sống tại Thượng Xá, là con của Nguyễn Hội, cháu của Nguyễn Hợp, và là khai quốc công thần nhà Hậu Lê.
1. Gia phả tại Thượng Xá: Nguyễn Hợp, Nguyễn Hội và Nguyễn Xí là ai?
Muốn hiểu mối liên hệ với Nguyễn Xí, phải phân biệt ba vai trò mà gia phả dòng họ Nguyễn Xí và phả ký tộc ghi rất rõ, và người đọc ngày nay rất dễ gộp lại thành một: Thủy tổ, Khai tổ và Đức tổ được suy tôn. Ba vai trò này không phải ba cách gọi của cùng một người, mà là ba đời trong cùng một mạch.
1. Nguyễn Hợp — Thủy tổ theo phả ký
Phả ký tộc Nguyễn Đình (Nghệ-Tĩnh) ghi Nguyễn Hợp là Thủy tổ của dòng họ Nguyễn Đình tại đây. Cụ vốn quê ở làng Cường Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh(Có 1 số tài liệu ghi là: Cương Gián, Cương Giám). Sau đó cụ dời nhà đến sống tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, Hoan Châu xưa, làm nghề chài lưới, nấu muối để sinh sống. Sau khi truyền nghề cho con, cụ xuống tóc đi tu ở chùa Kim Tự, tên Nôm gọi là chùa Vàng, với thiền hiệu là Pháp Đăng( có 1 tài liệu khác cho rằng sau thời gian sống ở Thượng Xá, cụ trở về Cường Gián sống với người con trai đầu là Nguyễn Khai rồi qua đời tại Chính quán)
Nguyễn Hội — Khai tổ, cha của Nguyễn Xí
Nguyễn Hội là người nối nghiệp cha(cung cấp muối cho Lê Lợi từ trước 1405) theo phả ký là Khai tổ của tộc họ Nguyễn Đình. Vợ của cụ, theo các bản phả khác nhau, có bản ghi là Vũ Thị Hạnh, Vũ Thị Hành hoặc Vũ Thị Hạch
Hai con trai của Nguyễn Hội là Nguyễn Biện (Có 1 số bản ghi Nguyễn Biên) và con thứ Nguyễn Xí. Nguyễn Biện được ghi là Phiêu Kỵ Thượng tướng quân, hy sinh trong trận đánh về Tây Đô(phả ký ghi năm 1425),
Điểm cần phân biệt rõ nhất ở đời Nguyễn Hội là chi tiết về tên gọi. Phả ký tộc viết: “Đức ông Nguyễn Hội (sau này cải thành Nguyễn Đình Hội)”. Gia phả Bùi Xá, một chi thuộc dòng này, cũng ghi cha của Nguyễn Xí là “Nguyễn Đình Hội”. Tuy nhiên, các nguồn sử liệu và báo chí công khai mà bài viết đã kiểm chứng ngày 04/11/2026 — Báo Nghệ An, Bảo tàng Hà Tĩnh, cổng thông tin xã Đông Lộc — khi nhắc đến cha của Nguyễn Xí đều chỉ gọi là Nguyễn Hội, không ghi việc cải tên.
Nguyễn Xí — Đức tổ được suy tôn, không phải Thủy tổ
Nguyễn Xí là con thứ của Nguyễn Hội, cháu nội của Nguyễn Hợp. Điều làm cho vị trí của ông đặc biệt không nằm ở thứ tự đời — ông là đời sau, không phải đời đầu — mà nằm ở chỗ cả dòng họ đã suy tôn ông làm Đức tổ, Tiên tổ của mình. Phả ký nói rõ ý này: trên ông còn có nhiều thế hệ tiền bối, ít ra là tổ phụ Nguyễn Hợp, thân phụ Nguyễn Hội, huynh trưởng Nguyễn Biện, nhưng dòng họ từ bao đời nay đã suy tôn ông là vị Tổ của mình, bởi sự nghiệp hiển hách và đạo đức của ông đã làm vẻ vang cho dòng họ.
Phả ký ghi Nguyễn Xí có 16 con trai và 8 con gái. Con số này, cũng như việc 7 người trong số con cháu làm quan dưới triều Hồng Đức và 8 người làm tướng trấn giữ các vùng, là ghi chép của phả ký, và bài viết ghi đúng nguồn đó. Trong số các con của ông, các nguồn sau này thường nhắc đến Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Xưởng, Nguyễn Kế Sài

2. Đối chiếu địa danh Thượng Xá qua các thời kỳ
Một trong những lỗi dễ mắc nhất khi viết về các chi họ cũ là ghi một câu “nay là” duy nhất, như thể địa danh không bao giờ thay đổi. Với Thượng Xá, cách ghi đó đã lỗi thời, vì chỉ trong vài năm gần đây địa danh hành chính gắn với làng Thượng đã thay đổi hai lần. Vì thế theo dõi bảng dưới để biết các địa chỉ bị thay đổi.
| Thời kỳ | Cách ghi địa danh |
|---|---|
| Xưa, thời Nguyễn Xí | Làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, đạo Hoan Châu |
| Các nguồn trước năm 2020 thường ghi | Xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An |
| Từ 01/01/2020 | Xã Nghi Hợp và xã Nghi Khánh sáp nhập thành xã Khánh Hợp, huyện Nghi Lộc |
| Từ 01/07/2025 | Xã Khánh Hợp, Nghi Thạch, Thịnh Trường sáp nhập thành xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An (Nghị quyết 1678/NQ-UBTVQH15); không còn cấp huyện trong tổ chức chính quyền hai cấp |
3. Lịch sử dòng họ, các chi và nơi thờ tự
Hai con trai của Nguyễn Hội là Nguyễn Biện và Nguyễn Xí. Nguyễn Biện là Phiêu Kỵ Thượng tướng quân, hy sinh trong trận đánh về Tây Đô năm (1425 theo phả ký). Nguyễn Xí là con thứ, sau này được dòng họ suy tôn làm Đức tổ.
Phả ký ghi Nguyễn Xí có 16 con trai và 8 con gái. Trong số 16 người con trai, người con thứ 16 là Duy Tân, chết lúc chưa đầy 1 tuổi trong việc diệt trừ bọn phản Đồn, Ban. 15 người con trai còn lại đều làm quan hoặc làm tướng dưới triều Lê ở thế kỷ XV. Trong số đó, 7 người làm quan giữ trọng trách dưới triều Hồng Đức của vua Lê Thánh Tông, 8 người làm tướng thống lãnh các đạo quân trấn giữ các vùng trọng yếu của nước Đại Việt lúc bấy giờ. Tất cả đều được phong tước, thấp thì cũng tước hầu, cao hơn là tước quận công, quốc công (phả ký tộc Nguyễn Đình, Nghệ-Tĩnh).
Con cháu của Nguyễn Xí chủ yếu phát về võ nghiệp, nhưng văn nghiệp cũng có người thành đạt. Phả ký ghi đời thứ 14 có Xuân quận công Nguyễn Nghiễm làm tới chức Tham tụng tể tướng, và Nguyễn Du là đời thứ 15 của dòng họ Nguyễn Đình (phả ký tộc Nguyễn Đình, Nghệ-Tĩnh). Phả đồ trong phả ký này chủ yếu ghi tên con cháu của vị Thế tổ đời thứ 2 là Nguyễn Xương, Phò Mã Đô Úy, Tổng trấn Thuận Hóa, và con cháu đời sau tiếp tục trấn giữ và mở mang vào phía Nam (phả ký tộc Nguyễn Đình, Nghệ-Tĩnh).
Đến đời Nguyễn Bá Quýnh, thụy hiệu Cương Chính Công Thần, chức Thiếu úy, tước Nguyên Quận công, đang làm Tổng Trấn Thuận-Quảng thì bị Hưng Quốc công Trịnh Kiểm triệu về năm 1569, để Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào thay thế, theo chỉ dẫn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và lời cầu xin của bà chị Ngọc Bảo, vợ Thái sư Trịnh Kiểm (phả ký tộc Nguyễn Đình, Nghệ-Tĩnh). Đức ông trở về Bắc, nhưng bà con dòng họ của ngài lưu lại ở đất Thuận-Quảng không phải là ít (phả ký tộc Nguyễn Đình, Nghệ-Tĩnh).
Một nhánh ở phía Nam là ông Hiếu Thuận hầu Nguyễn Văn Hiếu, làm quan dưới triều Gia Long và Minh Mạng, là người Gia Định, cháu 12 đời thuộc chi 11 do ông Nguyễn Phúc Đà (Xà) sinh hạ. Năm Gia Long thứ 15, khi làm trấn thủ Nghệ An, ông viết bài “Ký Gia Phổ” theo thể phú (phả ký tộc Nguyễn Đình, Nghệ-Tĩnh).
Về các chi, trong phạm vi tài liệu hiện có có hai đầu mối sau:
Chi Đông Yên, Đức Thọ, Hà Tĩnh: gia phả Bùi Xá ghi chi này thuộc chi 2 của dòng họ Nguyễn Đình gốc Thượng Xá, là con cháu của Nguyễn Sương, con trai thứ hai của Nguyễn Xí, với gia phả được viết khoảng năm 1680–1730 (gia phả họ Nguyễn Đình, tiểu chi Nguyễn Đình Tương, làng Thượng Tứ, xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh).
Mạch về Đức Yên, Đức Thọ qua Nguyễn Bá Lai: một số tài liệu ghi Nguyễn Bá Lai là cháu đời 7 của Nguyễn Xí về Đức Yên, Đức Thọ. Tài liệu của chi Đức Yên để đối chiếu đầu mối này vẫn chưa có trong phạm vi bài này.
Nơi thờ tự gắn chặt nhất với dòng Thượng Xá là đền thờ và khu lăng mộ Thái sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí tại khu vực Thượng Xá cũ. Sau khi Nguyễn Xí qua đời năm 1465 và được đưa về táng tại quê nhà làng Thượng, đến năm 1467 triều đình cho dựng đền thờ theo chế độ quốc tạo, quốc tế (Báo Nghệ An, 01/02/2025). Ngày 31/12/2020, Khu lăng mộ và Đền thờ Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt (Báo Nghệ An, 01/02/2025; Wikipedia Nguyễn Xí). Ngày 30 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại đền thờ diễn ra lễ hội truyền thống mang tên “Lễ Hội Mừng Công” hoặc “Lễ Hội Đền Thái Sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí”, kéo dài từ ngày 28 đến ngày 30 tháng Giêng âm lịch (Wikipedia Nguyễn Xí).
Trước khi qua đời, Nguyễn Xí dặn con cháu giữ gìn gia pháp, lấy đạo hiếu để lập công. Di huấn của ông nhắc con cháu: trông thấy nhà đẹp ruộng tốt, giàu có thì phải nghĩ đến nỗi vất vả chặt gai phát bụi của cha; trông thấy cảnh ca nhi múa hát vui vẻ thì phải nghĩ đến thời cha gian khổ, nằm tuyết gối đông. Di huấn lấy gương đời Đường có Lý Tĩnh là bậc danh tướng nhưng có hai con là Kính và Nghiệp phạm tội làm phản, và đời Tống có Tào Bân cũng là danh tướng nhưng có hai con là Xán và Vĩ lại bước lên đán tướng lĩnh, để con cháu sánh với họ. Di huấn cũng dặn: nếu ai gây đầu mối tranh giành nhau thì các người phải làm biểu tâu lên triều đình về tội bất hiếu, và các người hãy cùng nhau ghi nhớ lời dạy này, không được quên (phả ký tộc Nguyễn Đình, Nghệ-Tĩnh, trích di huấn của Nguyễn Xí).

4. Nguyễn Xí qua sử liệu — bảng mốc rút gọn
Các mốc chính trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Xí:
| Năm | Mốc |
|---|---|
| 1397 | Nguyễn Xí sinh tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc; gốc gia đình ở làng Cường Gián, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh; cha là Nguyễn Hội, ông nội là Nguyễn Hợp |
| 1418 | Cùng anh Nguyễn Biện tham gia khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi khởi xướng |
| 1428 | Phong Long hổ Thượng tướng quân, suy trung bảo chính công thần; được ban quốc tính, gọi là Lê Xí |
| 1429 | Khi khắc biển công thần, xếp hàng thứ 5, phong Huyện hầu |
| 1460 | Phong Khai phủ Nghi đồng tam ty, Nhập nội kiểm hiệu Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự, Á hầu phụ chính; tháng 10/1460 phong Sái Quận Công |
| 1462 | Phong Nhập nội Hữu Tướng quốc |
| 1463 | Phong Thái úy |
| 1465 | Qua đời tháng 10, thọ 69 tuổi, được truy tặng Thái sư |
| 1484 | Năm Hồng Đức thứ 15, truy phong Thái sư Cương Quốc Công |
Một số nguồn ghi năm sinh của Nguyễn Xí là 1396 thay vì 1397, và cách ghi về truy phong cũng khác nhau đôi chút: có nguồn ghi năm 1465 truy tặng Thái sư rồi năm 1484 mới thêm Cương Quốc Công, có nguồn ghi năm 1484 mới truy phong Thái sư Cương Quốc Công. Bảng trên ghi năm 1463 phong Thái úy, năm 1465 mất, năm 1484 truy phong Cương Quốc Công.
5. Các nhánh chuyển cư
Ngoài các nhánh đã nêu ở mục 3, trong phạm vi tài liệu hiện có chưa ghi thêm tuyến chuyển cư nào khác cho Thượng Xá.
Thượng Xá và Kiệt Thạch, Hà Tĩnh đều nhắc đến Nguyễn Xí và Nguyễn Hợp trong tài liệu của mình, nhưng số đời và quan hệ giữa Nguyễn Xí, Nguyễn Thế Gia và Nguyễn Cung chưa thống nhất về niên đại và cách ghi phả hệ. Vì vậy hai mạch được trình bày riêng: mạch Thượng Xá ở bài này, mạch Kiệt Thạch ở bài riêng về Kiệt Thạch, không nối thành một tuyến.
6. Nguồn tham khảo và những điểm chưa rõ
Nguồn tham khảo chính
- Phả ký tộc Nguyễn Đình (Nghệ-Tĩnh), Việt Nam Gia Phả, http://www.vietnamgiapha.com/XemPhaKy/78/pha_ky.html — Thủy tổ Nguyễn Hợp, Nguyễn Hội (sau cải Nguyễn Đình Hội theo phả ký), Đức tổ Nguyễn Xí 1397–1465; phả ký tự ghi chưa rõ ngày mất của Nguyễn Hợp và có tài liệu khác về việc cụ trở về Cường Gián.
- Gia phả họ Nguyễn Đình, tiểu chi Nguyễn Đình Tương, làng Thượng Tứ, xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh (PDF), gia-pha-ho-nguyen-Dinh-Duc-bui-chi-ong-kinh-sua — cha Nguyễn Xí là Nguyễn Đình Hội, mẹ Vũ Thị Hạnh; chi Đông Yên thuộc chi 2, con cháu Nguyễn Sương; gia phả viết khoảng 1680–1730.
- Đào Tuấn, “Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí: Sáng ngời đạo đức trung quân ái quốc”, Báo Nghệ An, 01/02/2025, https://baonghean.vn/thai-su-cuong-quoc-cong-nguyen-xi-sang-ngoi-dao-duc-trung-quan-ai-quoc-10290422.html — làng Thượng xưa, Hợp Thắng (Khánh Hợp, Nghi Lộc); các mốc 1428, 1462, 1463, 1465, 1484; đền dựng 1467, Di tích Quốc gia đặc biệt 31/12/2020.
- Bảo tàng Hà Tĩnh, “Đền Đông Xá”, http://baotang.hatinh.gov.vn/den-dong-xa-1587717964.html — các mốc 1428, 1462, 1463, 1465.
- Nghị quyết 1678/NQ-UBTVQH15 (2025) về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã tỉnh Nghệ An — Khánh Hợp, Nghi Thạch, Thịnh Trường thành xã Đông Lộc từ 01/07/2025; sáp nhập Nghi Hợp và Nghi Khánh thành Khánh Hợp từ 01/01/2020.
- Bài tổng quan của loạt bài: Nguồn gốc họ Nguyễn Đình: Tư liệu về các chi họ tại Việt Nam
Những điểm chưa rõ — câu hỏi nghiên cứu mở
- Gia phả gốc của dòng Thượng Xá hiện do ai giữ, là bản chép nào, phạm vi các đời đến đâu, và bản phả ký trên vietnamgiapha.com được biên soạn từ những bản chép nào.
- Tên thôn, xóm hiện tại của làng Thượng sau sáp nhập 2025, và vị trí chính xác của nhà thờ họ đại tôn so với đền thờ Nguyễn Xí.
- Việc “Nguyễn Hội sau cải Nguyễn Đình Hội” có nguồn độc lập nào ngoài phả ký tộc xác nhận hay không, và việc cải tên (nếu có) diễn ra vào thời điểm nào, do ai quyết định.
- Các nhánh chuyển cư từ Thượng Xá, ngoài hai đầu mối Đức Yên, Đức Thọ đã nêu, đã có tài liệu của chính chi đó xác nhận hay chưa.
- Ngày mất và nơi mất của Nguyễn Hợp, mà chính phả ký còn để ngỏ.
Câu hỏi thường gặp
Họ Nguyễn Đình Thượng Xá có nguồn gốc từ Nguyễn Xí không?
Theo phả ký tộc Nguyễn Đình (Nghệ-Tĩnh), mạch của dòng là Nguyễn Hợp → Nguyễn Hội → Nguyễn Xí. Nguyễn Xí là Đức tổ được suy tôn, không phải Thủy tổ. Nói dòng Thượng Xá “có nguồn gốc từ Nguyễn Xí” chỉ đúng theo cách ghi của phả ký, ở nghĩa Xí là Đức tổ, và chưa phải kết luận đã đối chiếu chéo bằng sử liệu triều đình cho mọi chi hiện nay.
Nguyễn Hợp, Nguyễn Hội và Nguyễn Xí có quan hệ như thế nào?
Nguyễn Hợp là Thủy tổ, là ông nội của Nguyễn Xí. Nguyễn Hội là Khai tổ, là cha của Nguyễn Xí. Nguyễn Xí là con thứ của Nguyễn Hội, cháu nội của Nguyễn Hợp, và là người được dòng họ suy tôn làm Đức tổ vì sự nghiệp và đạo đức của mình.
Làng Thượng Xá xưa nay thuộc đâu?
Làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc xưa thuộc khu vực mà trước năm 2020 gọi là xã Nghi Hợp, từ năm 2020 đến tháng 6/2025 gọi là xã Khánh Hợp, và từ ngày 01/07/2025 thuộc xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An. Vì vậy không nên chỉ ghi xã Nghi Hợp như tên gọi hiện tại.
Vì sao bài này không nối Thượng Xá với Kiệt Thạch thành một tuyến?
Vì các thông tin về số đời và quan hệ giữa Nguyễn Xí, Nguyễn Thế Gia và Nguyễn Cung còn chưa thống nhất về niên đại và cách ghi phả hệ, nên hai mạch được trình bày riêng, chờ đối chiếu thêm gia phả gốc, thay vì vẽ một tuyến đã chứng minh khi chưa đủ căn cứ.
Thông tin được Nguyễn Đình Lân sưu tập, tổng hợp, vì thế có những sai sót. Mọi đóng góp, sửa đổi xin liên hệ nguyenlanninhbinh@gmail.com.

