Gắn bó với vùng đất Kiệt Thạch, Hà Tĩnh, họ Nguyễn Đình được nhắc đến qua nhiều thế hệ học hành, đỗ đạt, dạy học và tham gia việc nước. Từ người khai lập chi họ đến những nhà khoa bảng và người hoạt động yêu nước về sau, mỗi thế hệ để lại những dấu ấn trong lịch sử quê hương.
Bài viết chủ yếu dựa trên nghiên cứu của Phan Đăng Thuận, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 năm 2025, kết hợp với tư liệu do Bảo tàng Hà Tĩnh giới thiệu. Một số chi tiết về phả hệ còn cần đối chiếu thêm, nhất là mối liên hệ giữa Nguyễn Xí, Nguyễn Thế Gia và Nguyễn Cung.
Kiệt Thạch — vùng đất có truyền thống khoa bảng
Làng Kiệt Thạch, còn gọi là làng Vĩnh Sinh, nằm ở phía đông núi Cài. Xưa, làng thuộc tổng Đậu Liêu, huyện Thiên Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Trong bài viết của Bảo tàng Hà Tĩnh công bố năm 2022, địa bàn Kiệt Thạch xưa được giới thiệu gắn với xã Thanh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là cách ghi địa danh theo thời điểm của tài liệu, không phải thông tin xác nhận địa chỉ hành chính hiện hành. [1, tr. 67; 2]
Tên gọi và địa giới của vùng đất này thay đổi qua nhiều thời kỳ. Dưới thời Lê sơ, xã Kiệt Thạch thuộc huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, xứ Nghệ An. Năm 1862, huyện Thiên Lộc đổi tên thành huyện Can Lộc. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, địa phương vẫn mang tên xã Kiệt Thạch. Năm 1949, Kiệt Thạch cùng hai xã Độ Liêu và Thổ Vượng hợp thành xã Hồng Minh; đến năm 1954, xã Hồng Minh được chia thành ba xã Minh Lộc, Thanh Lộc và Vượng Lộc. [2]
Theo số liệu được Phan Đăng Thuận dẫn, từ đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, Kiệt Thạch có 87 người đỗ đạt, trong đó có 13 vị đại khoa. Đây là thành tích chung của vùng đất Kiệt Thạch, không phải riêng họ Nguyễn Đình. [1, tr. 67]
Riêng thời Lê sơ, ba người con của vùng đất này đỗ đại khoa là Hoàng Hiền năm 1478, Nguyễn Cung năm 1493 và Thái Kính năm 1511. Câu nói “Kiệt Thạch tam khoa, tam Tiến sĩ” nhắc đến ba vị ấy, đồng thời thể hiện niềm tự hào về truyền thống học hành của địa phương. Trong mạch truyền thống chung đó, họ Nguyễn Đình có những đóng góp đáng chú ý. [1, tr. 67; 2]
Nguồn gốc Họ Nguyễn Đình Kiệt Thạch, Hà Tĩnh
Ghi chép về nguồn gốc từ Hải Dương
Theo nghiên cứu của Phan Đăng Thuận, dòng họ Nguyễn Đình ở Kiệt Thạch có nguồn gốc từ Hải Dương, nhiều đời làm nông và thường làm việc thiện. Vào cuối thời Trần, đầu thời Hồ, Nguyễn Hợp rời Hải Dương vào sinh sống tại Cường Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, rồi chuyển đến xã Xá Bạn, huyện Chân Lộc Thượng, xứ Hoan Châu. [1, tr. 67]
Nghiên cứu ghi Nguyễn Hợp sinh Nguyễn Hội; Nguyễn Hội sinh hai người con là Nguyễn Biện và Nguyễn Xí. Hai anh em sớm tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Những ghi chép này là căn cứ để tìm hiểu nguồn gốc xa của chi họ, nhưng chưa đủ để xác lập một phả hệ liên tục đến Kiệt Thạch, bởi thông tin về các thế hệ kế tiếp còn có điểm chưa thống nhất. [1, tr. 67–68]
Nguyễn Thế Gia và việc gây dựng chi họ
Nguyễn Thế Gia được nghiên cứu ghi nhận là thủy tổ họ Nguyễn Đình tại Kiệt Thạch. Khi tuổi đã cao, ông đưa gia đình đến đây, khai khẩn đất hoang và dạy học. Từ đó, con cháu sinh sống, gây dựng cơ nghiệp và phát triển thành chi họ qua nhiều thế hệ. [1, tr. 67]
Cũng theo tài liệu này, ông có ba người con trai. Sau khi mất, ông được truy tặng Tả Dụ sứ Mỹ Lộc hầu. Nghiên cứu cho biết dòng họ đã phát triển đến đời thứ 28; con số này cần được hiểu theo cách tính đời và thời điểm ghi nhận của tài liệu. [1, tr. 67]
Việc khai khẩn và dạy học của Nguyễn Thế Gia là hai dấu mốc đáng chú ý trong buổi đầu hình thành chi họ: vừa tạo dựng nơi sinh sống, vừa đặt nền tảng cho việc học của con cháu.
Nguyễn Cung và dấu ấn khoa bảng thời Lê sơ
Nguyễn Cung là một trong ba vị đại khoa tiêu biểu của Kiệt Thạch thời Lê sơ. Theo nghiên cứu, ông thông minh, học giỏi từ nhỏ nhưng trải qua nhiều năm thi cử mới đỗ đạt. Năm Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493), dưới triều vua Lê Thánh Tông, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân. [1, tr. 68–69]
Kết quả này còn được ghi trên bia Khoa giáp bi chí, dựng năm 1755 tại từ đường họ Hoàng. Theo phần dịch văn bia do Bảo tàng Hà Tĩnh giới thiệu, Nguyễn Cung quê ở xã Kiệt Thạch, đứng thứ ba trong hàng Đệ nhị giáp của khoa thi năm 1493 và làm quan đến chức Thừa chánh sứ. Tấm bia là tư liệu về thành tích khoa bảng của ông; nơi lưu giữ bia thuộc họ Hoàng, không phải nhà thờ họ Nguyễn Đình. [1, tr. 68; 2]
Sau khi đỗ, Nguyễn Cung được bổ làm Hiệu lý. Nghiên cứu cho biết đến năm 1516, ông giữ chức Hiến sát sứ ở Quảng Nam, sau đó được thăng Thừa chánh sứ. Trước tình hình triều chính cuối thời Lê sơ ngày càng rối ren, ông cáo quan về quê. [1, tr. 69]
Theo Bảo tàng Hà Tĩnh, chưa xác định được ngày, tháng, năm mất của Nguyễn Cung. Dòng họ lấy ngày Đông chí hằng năm làm ngày giỗ ông. [2]
Những thế hệ nối tiếp truyền thống học hành và việc nước
Nghiên cứu ghi nhận một số người ở các đời thứ tư, thứ năm và thứ bảy của chi họ từng đỗ đạt, giữ chức quan tại địa phương. Tuy nhiên, đoạn tư liệu này chưa nêu rõ tên từng người. Bởi vậy, khi tìm hiểu các thế hệ đầu, vẫn cần đối chiếu thêm gia phả để xác định đầy đủ danh tính và thứ bậc. [1, tr. 67–68]
Đến thời Nguyễn, gia đình Nguyễn Liên là một trường hợp nổi bật, với nhiều người con đỗ đạt và hai cha con cùng giữ chức Tế tửu Quốc Tử giám. Các nhân vật được nghiên cứu giới thiệu cho thấy truyền thống của dòng họ không chỉ thể hiện qua thi cử, mà còn qua việc dạy học và những đóng góp cho xã hội. [1, tr. 68]
Nguyễn Liên: từ học trò nghèo đến người đứng đầu Quốc Tử giám
Nguyễn Liên sinh năm 1824, hiệu Sạc Phong. Thuở nhỏ, vì gia đình nghèo, ông phải đi ở cho một gia đình tại Quang Chiêm, huyện Đức Thọ. Gần nơi ở có lớp học của cụ Đầu phủ Đoàn, ông thường tranh thủ đứng ngoài nghe giảng và sau đó được thầy giúp đỡ cho ăn học. [1, tr. 69]
Năm 1847, Nguyễn Liên đỗ Tú tài; năm 1848, ông đỗ Cử nhân. Sau khi đỗ, ông chưa ra làm quan ngay mà đến vùng Thượng Nga và Ngọc Điền khai hoang, sinh sống và mở lớp dạy học cho con em địa phương. [1, tr. 69]
Từ năm 1858, ông bắt đầu nhận việc trong bộ máy triều đình. Qua nhiều năm, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ như Huấn đạo Hương Sơn, quyền Nhiếp huyện Nghi Lộc, Tri huyện Bố Trạch, Biên tu Quốc sử quán và Tri phủ Bình Giang. Ông còn giữ chức Tế tửu Quốc Tử giám ở Huế, phụ trách cơ sở giáo dục quan trọng của triều đình. [1, tr. 69–70]
Những năm tuổi cao, Nguyễn Liên tiếp tục làm Đốc học Quảng Nam và đào tạo học trò. Nghiên cứu nhắc đến Nguyễn Thượng Hiền trong số những môn sinh tiêu biểu của ông. Bên cạnh sự nghiệp riêng, Nguyễn Liên còn được biết đến qua truyền thống học hành của gia đình, đặc biệt là người con Nguyễn Văn Trình, cũng từng làm Tế tửu Quốc Tử giám. [1, tr. 68, 70–71]
Nguyễn Lương Cận: tham gia phong trào Cần Vương
Nguyễn Lương Cận là người con trai thứ hai của Nguyễn Liên, sinh năm 1856. Năm 1884, ông đỗ Cử nhân tại trường thi Thừa Thiên. Sau đó, ông tham gia phong trào Cần Vương và được giao chức Bang biện Quân vụ. [1, tr. 71]
Ông cùng các nghĩa sĩ tổ chức lực lượng, chuẩn bị vũ khí chống Pháp. Theo nghiên cứu, sau trận đánh tại Trại Lê, Can Lộc, ông bị phục kích trên đường trở về và hy sinh ngày 23/10/1885. Vợ ông, bà Bùi Thị Trang, cũng tham gia vận động binh lương, góp sức cho phong trào. [1, tr. 71]
Nguyễn Văn Trình: nhà khoa bảng, người dạy học và hoạt động yêu nước
Nguyễn Văn Trình (1872–1949) là người con thứ sáu của Nguyễn Liên. Ông đỗ Tú tài năm 1894, Cử nhân năm 1897 và Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân năm 1898. Trong thời gian làm quan, ông từng giữ các chức vụ như Tri phủ Hưng Nguyên, Tri phủ Anh Sơn, Thị lang Bộ Hình và Bố chính Phú Yên. [1, tr. 71–72]
Nghiên cứu ghi nhận ông có thái độ bênh vực người dân và bảo vệ lẽ phải. Năm 1916, khi được giao xét xử vụ việc liên quan đến cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân, ông từ chối. Sau nhiều biến động trong quan trường, ông tiếp tục làm việc tại Quốc sử quán, tham gia biên soạn sách sử rồi xin nghỉ hưu. [1, tr. 72]
Sau khi về hưu, Nguyễn Văn Trình vẫn dạy học, viết văn và dịch sách. Năm 1931, ông dạy Hán văn tại Trường Cao Xuân Dục ở Vinh. Về sau, ông tham gia hoạt động tại quê nhà, làm cố vấn cho Việt Minh xã Kiệt Thạch và đảm nhiệm các công việc của tổ chức Liên Việt. Năm 1947, ông được cử làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Hà Tĩnh và Ủy viên Khu hội Liên Việt Khu IV. [1, tr. 72]
Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Chuyên và Nguyễn Bá
Nguyễn Quỳnh, tự Thất Phu, hiệu Phùng Sơn, đỗ Cử nhân năm 1909 và Phó bảng năm 1910. Ông từng làm Tri huyện Nam Đàn, sau chuyển sang công việc giáo dục, giữ chức Giáo thụ tại Hà Thanh rồi Ninh Hòa. Do bệnh nặng, ông mất khi đang làm việc tại nhiệm sở. [1, tr. 72]
Bên cạnh những người đi theo con đường khoa cử, nghiên cứu còn nhắc đến Nguyễn Chuyên và Nguyễn Bá. Trong thời gian phục vụ quân ngũ, hai ông được giao công việc liên quan đến tính toán, sổ sách và sách bạ. Những ghi chép này bổ sung thêm hình ảnh về các thành viên dòng họ trong đời sống đương thời. [1, tr. 72]
Nguyễn Nhuệ: hoạt động cách mạng và tham gia khởi nghĩa tại quê nhà
Nguyễn Nhuệ (1901–1946) được nghiên cứu ghi là hậu duệ đời thứ 13 của Nguyễn Cung. Ông sớm tham gia Tân Việt Cách mạng đảng và tiếp tục hoạt động trong phong trào cách mạng những năm sau đó. Thời kỳ 1930–1931, ông là phái viên của Xứ ủy Trung Kỳ, được phân công chỉ đạo phong trào tại Quảng Trị. [1, tr. 72–73]
Năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt và đưa đi giam tại nhà tù Buôn Ma Thuột. Sau khi ra tù, dù bị quản thúc tại quê nhà, ông vẫn tiếp tục hoạt động. Tháng 8/1945, ông làm Trưởng ban khởi nghĩa tổng Đậu Liêu, sau đó tham gia Ủy ban huyện Can Lộc, phụ trách tư pháp. Ông mất năm 1946 vì bệnh. [1, tr. 73]
Ngoài các nhân vật trên, nghiên cứu còn ghi nhận dòng họ có 11 người hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, một Bà mẹ Việt Nam anh hùng và một Thầy thuốc Nhân dân. Đây là những số liệu được tài liệu công bố, cần được bổ sung danh sách cụ thể khi có thêm hồ sơ của dòng họ. [1, tr. 73]
Gia phả và những tư liệu cần tiếp tục đối chiếu
Một trong những nguồn được Phan Đăng Thuận sử dụng là gia phả họ Nguyễn ở Thanh Lộc, bản chữ Hán được trùng tu năm Thiệu Trị thứ năm (1845). Bên cạnh gia phả, bia Khoa giáp bi chí năm 1755 cung cấp thông tin về khoa thi và chức quan của Nguyễn Cung. Hai loại tư liệu này giúp tìm hiểu dòng họ từ cả góc độ phả hệ và lịch sử khoa bảng. [1, chú thích 2–3, tr. 67–68; 2]
Tuy vậy, mối quan hệ giữa một số nhân vật vẫn cần làm rõ. Nghiên cứu ghi Nguyễn Thế Gia là cháu năm đời của Nguyễn Xí, đồng thời ghi Nguyễn Cung là cháu nội của Nguyễn Thế Gia. Khi đặt cạnh niên đại của Nguyễn Xí và năm sinh khoảng 1448 được dẫn cho Nguyễn Cung, các thông tin này chưa khớp nhau. Vì vậy, bài viết chưa xác lập chuỗi phả hệ nối ba người. [1, tr. 67–68]
Tên Nguyễn Thế Gia cũng có cách viết khác là Nguyễn Thế Giai trong tiêu đề một trang trên Việt Nam Gia Phả. Bài này dùng tên Nguyễn Thế Gia theo nghiên cứu của Phan Đăng Thuận; việc hai cách viết có cùng chỉ một người hay không cần được xác nhận bằng gia phả gốc.
Những thông tin khác như tên chính thức của nhà thờ họ, ngày giỗ chung của chi, danh sách sắc phong và người đang lưu giữ các bản gia phả cũng cần được bổ sung từ tư liệu của chính dòng họ. Riêng ngày Đông chí được nguồn Bảo tàng Hà Tĩnh nhắc đến là ngày giỗ Nguyễn Cung, không nên mặc nhiên coi là ngày giỗ chung của toàn chi. [2]
Gìn giữ tư liệu, tiếp nối truyền thống
Lịch sử họ Nguyễn Đình ở Kiệt Thạch được lưu lại qua gia phả, văn bia và cuộc đời của những người đi trước. Trong đó, việc học và dạy học là mạch nối dễ nhận thấy, từ ghi chép về Nguyễn Thế Gia đến các thế hệ Nguyễn Cung, Nguyễn Liên, Nguyễn Văn Trình và những người nối tiếp.
Để hiểu đầy đủ hơn về dòng họ, việc sưu tầm và đối chiếu tư liệu vẫn cần sự chung tay của con cháu. Gia phả, bài vị, sắc phong, văn tế, giấy tờ cũ hay ảnh nhà thờ họ đều có thể giúp bổ sung những khoảng trống trong lịch sử của chi Kiệt Thạch.
Nếu gia đình đang lưu giữ tư liệu, bạn có thể gửi về nguyenlanninhbinh@gmail.com, kèm tên chi họ, địa phương, người cung cấp và thông tin về nguồn gốc tài liệu. Những đóng góp ấy sẽ giúp việc tìm hiểu cội nguồn ngày càng đầy đủ, chính xác hơn.
Tài liệu tham khảo
[1] Phan Đăng Thuận, “Vài nét về dòng họ Nguyễn Đình ở làng Kiệt Thạch, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh”, Nghiên cứu Lịch sử, số 5 năm 2025, tr. 67–73. Bản PDF trên website Họ Nguyễn Đình.
[2] Trần Phi Công, “Tam vị đại khoa thời Lê sơ xã Kiệt Thạch”, Bảo tàng Hà Tĩnh, công bố ngày 26/9/2022. Đọc bài viết.
Tài liệu đối chiếu tên gọi: Việt Nam Gia Phả, “Thủy tổ: Họ Nguyễn Đình chi Nguyễn Thế Giai – Hà Tĩnh”. Xem trang. Không dùng riêng tiêu đề trang này để xác lập phả hệ.
Nguyễn Đình Lân sưu tầm, tổng hợp. Mọi góp ý, bổ sung tư liệu xin gửi về nguyenlanninhbinh@gmail.com.

